Những thành tựu của ngành Công Thương qua 30 năm tái lập tỉnh Bình Thuận (1992 - 2022)

 

Sau khi chia tách tỉnh, đến tháng 4/2008, Sở Công Thương Bình Thuận thành lập trên cơ sở hợp nhất Sở Công nghiệp và Sở Thương mại. Có thể nói, đây là thời kỳ ngành Công Thương Bình Thuận đạt được nhiều thành tựu đáng kể, cụ thể:

Trên lĩnh vực công nghiệp 

Một số doanh nghiệp lớn đã và đang hình thành đóng vai trò chủ lực trong hoạt động sản xuất của ngành. Trong 10 năm gần đây, công nghiệp Bình Thuận luôn tăng trưởng ở mức cao hơn bình quân của cả nước, giai đoạn 2006-2010, phát triển công nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, khó khăn cho các chủ đầu tư, doanh nghiệp nên sản xuất công nghiệp có bước phát triển khá. Cơ cấu nội bộ ngành chuyển biến theo hướng tích cực, nhất là tăng nhanh tỷ trọng sản xuất điện năng. Các sản phẩm lợi thế tiếp tục khẳng định chỗ đứng trên thị trường và tăng trưởng nhanh như hải sản chế biến, nước khoáng Vĩnh Hảo, muối công nghiệp. Một số sản phẩm mới được hình thành: điện gió, điện mặt trời, nhựa composite, đồ gỗ trang trí nội thất, tole mạ màu, giấy dính, chế biến khoáng sản titan…

Từng bước hình thành các khu, cụm công nghiệp theo hướng thu hút các ngành nghề gắn liền vùng nguyên liệu và lợi thế của từng địa phương. Một số nghề truyền thống được khôi phục và tổ chức du nhập nghề mới. Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề nông thôn được hình thành ngày càng nhiều ở các địa phương. 

Từ khi tái lập tỉnh đến năm 2002 khởi công xây dựng Khu công nghiệp (KCN) đầu tiên của tỉnh tại Phan Thiết với diện tích giai đoạn 1 là 68 ha. Giai đoạn 2002 - 2012, 07 khu công nghiệp (KCN Phan Thiết 2, Hàm Kiệm 1,2, Tân Đức, Sơn Mỹ 1, 2 và Tuy Phong) được Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư. Đến nay, toàn tỉnh quy hoạch 09 KCN với tổng diện tích là 3.003,43 ha, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam tỉnh. Đã có 05 KCN đi vào hoạt động (Phan Thiết 1, 2; Hàm kiệm 1, 2; Sông Bình), thu hút được 89 dự án đầu tư (trong đó có 28 dự án FDI), với tổng vốn đầu tư 16.192,54 tỷ đồng và 231,08 triệu USD, diện tích cho thuê 277,74/734,9 ha, đạt tỷ lệ 37,79% diện tích các KCN đã đầu tư xây dựng hạ tầng; trong đó, có 64 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tập trung chủ yếu ở các ngành nghề gia công, sản xuất giày dép, bao bì carton, các sản phẩm nội thất từ gỗ, giấy dính cao cấp xuất khẩu, bảo quản và đóng gói quả thanh long, chế biến thực phẩm như nước mắm, nước tương, tương ớt các loại, hạt nêm,… Tổng số lao động hiện nay trong các KCN là 10.800 người.

Năm 2006, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề nông thôn tỉnh Bình Thuận đến năm 2015” với số lượng 33 cụm công nghiệp (CCN), tổng diện tích 946,7 ha. Giai đoạn 2006 - 2016, đã hình thành 16 CCN bố trí nơi sản xuất cho các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động. Đến nay, có 36 CCN được quy hoạch với tổng diện tích 1.182,8 ha; trong đó, 28/36 CCN được thành lập; có 05 CCN đầu tư hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, gồm CCN Phú Hài, Nam Cảng (thành phố Phan Thiết), Thắng Hải 1 (huyện Hàm Tân), CCN Nam Hà, Nam Hà 2 (Đức Linh). Toàn tỉnh có 27 CCN thu hút, bố trí hơn 173 dự án đầu tư với tổng diện tích 268,2 ha, chiếm khoảng 35,66% diện tích đất công nghiệp, giải quyết việc làm cho 8.250 lao động tại địa phương. 

Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản của tỉnh cơ bản ổn định, có bước phát triển khá. Từ những năm đầu khi tách tỉnh, các cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản chủ yếu là các cơ sở sản xuất quốc doanh, công nghệ và thiết bị còn lạc hậu. Sau 20 năm phát triển, có khoảng 394 cơ sở sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản (gồm: chế biến, sơ chế đông lạnh, chế biến hạt điều, mủ cao su, chế biến gỗ,...). Đến nay, qua 30 năm, toàn tỉnh có 739 cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông, lâm, thủy sản; trong đó có 25 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản, 24 doanh nghiệp kinh doanh chế biến xuất khẩu nông sản, tập trung phát triển công nghiệp bảo quản sau thu hoạch và đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm lợi thế của tỉnh theo chiều sâu như chế biến thủy sản đông lạnh, thủy sản khô, phát triển công nghiệp chế biến rượu, nước giải khát từ quả thanh long, mủ trôm, tảo,… các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đang chuyển dần từ sản xuất thủ công sang cơ giới hóa, hiện đại hóa trang thiết bị như trang bị hệ thống cấp đông băng chuyền, hệ thống làm sạch, hệ thống băng chuyền đóng chai nước mắm tự động, áp dụng Chương trình quản lý chất lượng tiên tiến HACCP, tiêu chuẩn BRC, Halal. Năng lực sản xuất của ngành công nghiệp chế biến từng bước được cải thiện, cơ bản đáp ứng mục tiêu nâng cao năng suất, giá trị và hiệu quả.

Về phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng sa khoáng titan: Triển khai Quyết định số 1546/QĐ-TTg ngày 03 tháng 9 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt Đề án “Trung tâm chế biến quặng sa khoáng titan” mang tầm quốc gia tại tỉnh Bình Thuận. Đến nay,trên địa bàn tỉnh có 07 Giấy phép khai thác khoáng sản titan còn hiệu lực, với tổng công suất cấp phép 369.653 tấn KVN/năm. Trong đó, có 03 Giấy phép đang khai thác, 01 Giấy phép đang dừng, 01 giấy phép chưa triển khai xây dựng cơ bản mỏ và 02 giấy phép trả lại. Tỉnh đã chuẩn bị các điều kiện để hình thành 02 khu vực chế biến quặng sa khoáng titan quy mô lớn tại KCN Sông Bình (Bắc Bình) khoảng 300 ha và 02 CCN tại huyện Hàm Tân, gồm: Thắng Hải 1 khoảng 50 ha, Thắng Hải 2 khoảng 40 ha; đã có 03 dự án hoàn thành và đi vào hoạt động (có 02 dự án nghiền bột zircon của 02 đơn vị (Công ty TNHH Thương mại Tân Quang Cường, Công ty Liên doanh Khoáng sản Quốc tế Hải Tinh) hoạt động, tạo ra các sản phẩm bột nghiền zircon có hàm lượng ZrO2 ≥ 65%, cỡ hạt ≤ 75 µm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu theo quy định; 03 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư và đang triển khai xây dựng (Dự án sản xuất bột màu Đioxit Titan với tổng công suất 10.000 tấn sản phẩm/năm tại xã Tân Phước, thị xã La Gi (Cụm CN La Gi); Dự án sản xuất xỉ titan công suất 12.000 tấn/năm tại xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình (9,7 ha) và Dự án chế biến bột zircon siêu mịn vốn đầu tư 20 triệu USD tại KCN Sông Bình (4,8 ha); 01 dự án sản xuất Pigment TiO2, công suất 80.000 tấn/năm mới được cấp chứng nhận đầu tư vào Khu công nghiệp Sông Bình. Trong giai đoạn 2016 – 2020, các doanh nghiệp chế biến với sản lượng 723.243 tấn sản phẩm các loại (gồm: Ilmenit: 429.328 tấn, tinh quặng zircon: 94.897 tấn, rutil: 22.012 tấn, monazit: 426 tấn, bột zircon: 52.696 tấn, quặng đuôi: 123.884 tấn). 

Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất các loại nguyên vật liệu, phụ kiện, phụ tùng, ngoài dự án sản xuất bửng ô tô của Công ty TNHH IST (KCN Phan Thiết), Dự án Nhà máy dây khóa kéo KaoShing tại CCN Hàm Đức, Dự án sản xuất đinh vít các loại (KCN Hàm Kiệm II). Hiện nay, đã có một số dự án sản xuất linh kiện điện tử và phụ tùng có hồ sơ đăng ký đầu tư vào các CCN trên địa bàn tỉnh.

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2021 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 35.978 tỷ đồng. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp đến năm 2021 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 11.840,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27% trong giá trị tăng thêm của tỉnh năm 2021. Tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu GRDP của tỉnh năm 2021 đạt 28,52%. Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chuyển dịch đúng hướng. Giảm dần tỉ trọng ngành công nghiệp khai khoáng; tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước từ 25,23% năm 2015 tăng lên 45,2% vào năm 2021. Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn duy trì tỷ trọng cao, chiếm 48,76% năm 2021, giữ vững vị trí chủ đạo trong lĩnh vực công nghiệp trong thời gian qua. 

Trên lĩnh vực năng lượng

Năm 1992, chỉ mới có 44/111 xã, phường, thị trấn có điện với 35% tổng số hộ dân toàn tỉnh có điện, điện năng tiêu thụ đầu người đạt 28,47 kWh/người. Đến năm 2002, tăng lên 111/112 xã, phường, thị trấn có điện với 74,6% tổng số hộ dân toàn tỉnh có điện, điện năng tiêu thụ đầu người đạt 229,8 kWh/người (trong đó, số hộ nông thôn có điện khoảng 67%). Đến nay, đã có 124/124 xã, phường, thị trấn có điện (100%), 99,77% tổng số hộ dân toàn tỉnh có điện; trong đó, số hộ nông thôn có điện đạt 99,69%. Điện thương phẩm toàn tỉnh đạt 2.471 triệu kWh; điện năng tiêu thụ đầu người 1.816,9 kWh/người. Trong các năm qua đã đáp ứng đủ nhu cầu điện cho các thành phần phụ tải quan trọng, phụ tải sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân; đảm bảo cung cấp điện an toàn cho các ngày lễ lớn và các sự kiện quan trọng của địa phương. Thực hiện tốt chỉ tiêu nâng cao độ tin cậy cung cấp điện và rút ngắn thời gian tiếp cận điện năng. Đối với huyện đảo Phú Quý, đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục và duy trì ổn định cấp điện 24/24 giờ cho huyện đảo (trên đảo có các nhà máy điện diesel 10 MW, điện gió 06 MW và điện mặt trời 0,8 MWp), sản lượng điện sản xuất phát lên lưới năm 2021 đạt 24,193 triệu kWh. 

Bình Thuận là địa phương có tiềm năng năng lượng gió và mặt trời thuộc loại cao nhất trong cả nước; số giờ gió, giờ nắng trung bình cao hơn so với số giờ trung bình ở phía Nam, tốc độ gió và bức xạ nhiệt cao và ổn định, rất phù hợp và thuận lợi để phát triển điện gió, điện mặt trời. Với các lợi thế đó, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 76 -KL/TW, ngày 28 tháng 11 năm 2013 xác định Bình Thuận là Trung tâm năng lượng mang tầm quốc gia và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh cũng đã đề ra nhiệm vụ khai thác tiềm năng năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi và tích cực đôn đốc triển khai các dự án năng lượng để Bình Thuận sớm trở thành Trung tâm năng lượng mang tầm quốc gia.

Tổng công suất nguồn điện trong quy hoạch điện trên địa bàn tỉnh Bình Thuận khoảng 13.700 MW. Từ năm 2010, tỉnh Bình Thuận đã xây dựng Quy hoạch phát triển điện gió tỉnh giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và đã được Bộ Công Thương phê duyệt năm 2012. Theo đó, đến năm 2030, dự kiến công suất lắp đặt tích lũy đạt khoảng 2.500 MW với sản lượng điện gió tương ứng là 5.475 triệu kWh. Tỉnh cũng đã xây dựng Quy hoạch điện mặt trời giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trình Bộ Công Thương thẩm định, mục tiêu phát triển điện mặt trời đến năm 2030 của tỉnh với tổng công suất lắp đặt đạt xấp xỉ 6.199 MWp, sản lượng điện tương ứng khoảng 9.769 triệu kWh.

Đến cuối năm 2021, toàn tỉnh có 48 nhà máy điện đang hoạt động phát điện với tổng công suất 6.520 MW, gồm: 04 nhà máy nhiệt điện than thuộc Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, tổng công suất 4.284 MW: Vĩnh Tân 1: 1.240 MW, Vĩnh Tân 2: 1.244 MW, Vĩnh Tân 4:1.200 MW, Vĩnh Tân 4 mở rộng: 600 MW; 07 nhà máy thủy điện (819,5 MW); 10 nhà máy điện gió tổng công suất 335 MW; 26 nhà máy điện mặt trời 1.072 MW (1.348 MWp); 01 nhà máy điện diesel đảo Phú Quý (10 MW). Sản lượng điện thiết kế của 48 nhà máy điện trên địa bàn tỉnh khoảng 31,6 tỷ kWh/năm. Ngành công nghiệp điện, năng lượng của tỉnh đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và đảm bảo cung cấp điện cho khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Ngoài ra, còn có nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 3 (1.980 MW) thuộc Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân đang chuẩn bị thi công; Trung tâm Điện lực (khí LNG) Sơn Mỹ với tổng công suất 02 nhà máy là 4.500 MW đang thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư, dự kiến khởi công sau năm 2022. Có 01 nhà đầu tư đang xin chủ trương bổ sung quy hoạch, đầu tư Dự án nhiệt điện khí LNG Kê Gà, công suất 3.600 MW; 08 nhà đầu tư đăng ký, đề xuất các dự án điện gió ngoài khơi với tổng công suất 22.200 MW. Riêng trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương đã đồng ý chủ trương cho Công ty Enterprize Energy nghiên cứu khảo sát Dự án điện gió Thăng Long Wind ngoài khơi Kê Gà (Hàm Thuận Nam) với công suất đề xuất 3.400 MW; hiện nay nhà đầu tư đã hoàn thành lập Quy hoạch điện lực bổ sung, trình Bộ Công Thương thẩm định.

Trên lĩnh vực thương mại

Toàn ngành đã vượt qua những khó khăn, thách thức của việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động thương mại ngày ổn định, phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Trên lĩnh vực thương mại nội địa, thị trường hàng hóa đa dạng thông suốt giữa tỉnh ta với các vùng, miền của cả nước. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng qua mỗi năm. Thị trường sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phát triển mạnh; đa dạng, phong phú về số lượng, chủng loại hàng hóa, dịch vụ; công tác bảo đảm an toàn vệ sinh, an toàn thực phẩm được quan tâm, sức khỏe người dân ngày được nâng lên. Mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi được quan tâm đầu tư từ thành thị đến các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo. Đến nay, đã đầu tư nâng cấp, xây mới trên130 chợ, góp phần bảo đảm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa hàng ngày của người dân, giao thương các sản phẩm từ nông thôn đến thành thị, vùng miền của cả nước được tăng cường; công tác cung ứng các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho đồng bào miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đảm bảo. Trước đây, hệ thống siêu thị, trung tâm mua sắm, chuỗi cửa hàng tiện ích trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư. Từ 30 tháng 4 năm 2007, siêu thị Co.opmart Phan Thiết là siêu thị đầu tiên của tỉnh khai trương đi vào hoạt động, với tổng diện tích xây dựng khoảng 7.700 m2, trải qua gần 15 năm hoạt động với ngành nghề kinh doanh bán lẻ đã nỗ lực phấn đấu và phát triển mạng lưới tại tỉnh Bình Thuận: Co.opmart Lagi, Co.opmart Phan Rí Cửa và các cửa hàng thực phẩm Co.opfood Hải Thượng Lãn Ông, Co.opfood Từ Văn Tư, Co.opfood Võ Văn Kiệt. Năm 2013, Trung tâm Thương mại LOTTE Mart Phan Thiết được thành lập và đi vào hoạt động, với tổng diện tích 35.000 m2, tổng vốn đầu tư 45 triệu USD, là điểm mua sắm phổ biến của người dân Bình Thuận và cộng đồng người nước ngoài sinh sống và du lịch đến Phan Thiết. Kể từ đó đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành, phát triển hệ thống chuỗi phân phối bán buôn, bán lẻ với nhiều hình thức đa dạng như Trung tâm thương mại, siêu thị, siêu thị mini, cửa hàng tiện ích, siêu thị điện máy,… Hiện nay, đã phát triển 01 Trung tâm thương mại, 03 siêu thị, 75 chuỗi cửa hàng tiện lợi hiện đại (57 chuỗi cửa hàng Bách Hóa Xanh, 15 chuỗi cửa hàng Vinmart+, 3 chuỗi cửa hàng Coopfood) và hệ thống các cửa hàng bán lẻ, siêu thị điện máy,… đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân. Hệ thống kho, cửa hàng xăng dầu cung ứng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế dân sinh và phục vu quốc phòng đã phát triển mạnh, rộng khắp, đảm bảo về an toàn năng lượng. Đến nay, số cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh là 296 cửa hàng, 14 tàu dầu, 02 kho xăng dầu. 

Hiện nay, hàng hoá của Bình Thuận đã xuất khẩu trực tiếp đến 56 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã tham gia hầu hết thị trường các nước là thành viên của các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng trưởng qua các năm (tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2020 đạt 10,1%). Hàng hóa xuất khẩu của tỉnh gồm thủy -hải sản, nông sản (thanh long, cao su, điều), hàng may mặc và giày dép các loại.

Công tác xúc tiến thương mại (XTTM) giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa của địa phương tham gia các hoạt động XTTM trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu thương hiệu, sản phẩm, tìm kiếm đối tác bạn hàng, phát triển thị trường, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa qua đó giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đã chủ động lựa chọn thị trường trọng điểm, phù hợp với khả năng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tỉnh Bình Thuận. Công tác phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan, các Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp thực hiện công tác XTTM đồng bộ và hiệu quả. Các Hiệp hội ngành nghề ngày càng tích cực hơn trong hoạt động XTTM, hiệu quả tham gia các chương trình được cải thiện rõ nét. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ triển lãm tại thị trường các tỉnh, thành trong nước; thực hiện các chương trình kích cầu, đưa hàng Việt về phục vụ vùng nông thôn, miền núi, hải đảo hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị để các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm, thương hiệu đến người tiêu dùng đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ hàng hóa, mở được đại lý và đưa được sản phẩm tiêu thụ tại các siêu thị trong nước. Tăng cường công tác xúc tiến xuất khẩu: thông báo đến các Hiệp hội, ngành hàng, doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh cơ hội giao thương với các doanh nghiệp nước ngoài do Bộ Công Thương và các đơn vị XTTM trong và ngoài nước tổ chức để các Hiệp hội, doanh nghiệp biết, lựa chọn sự kiện phù hợp tham gia. Làm tốt công tác thông tin hỗ trợ doanh nghiệp. Xử lý, chuyển tải thông tin kịp thời các chương trình XTTM, hội thảo, khảo sát thị trường, học tập kinh nghiệm tại thị trường trong và ngoài nước của các tổ chức XTTM trong và ngoài nước đến các doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh để các doanh nghiệp tham gia thông qua trang thông tin điện tử của Trung tâm. Phối hợp Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương triển khai khảo sát tình hình ứng dụng thương mại điện tử tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; triển khai Đề án “Xây dựng website và hệ thống thông tin cho các cơ sở công nghiệp nông thôn”; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch thương mại điện tử và website XTTM: ECVN, VNEX và SBMf cho các doanh nghiệp tham gia. 

Quá trình xây dựng và phát triển, ngành Công Thương Bình Thuận luôn nỗ lực vượt khó, tập trung khai thác, sử dụng có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, tổ chức và hoạt động của ngành Công Thương có bước phát triển mới, góp phần vào quá trình phát triển của tỉnh nhà, từng công chức, viên chức đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của ngành Công Thương Bình Thuận, nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao trong thời gian tới, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà nhanh hơn, bền vững, hiệu quả và toàn diện hơn