Quy hoạch Năng lượng

Tháng 5 vừa qua, Tập đoàn kỹ thuật và công nghệ năng lượng có trụ sở tại Đức, GICON, và Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) vừa ký Biên bản ghi nhớ để hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và sản xuất Hydro tại Việt Nam. Đồng thời với sự kiện đó, Tập đoàn phát triển các-bon thấp Enterprize Energy đã đề xuất với Chính phủ Việt nam kết hợp việc phát triển và khai thác Dự án Điện gió ngoài khơi Thăng Long tại tỉnh Bình Thuận với sản xuất hydro tái tạo hoặc hydro xanh. Hiện nay, Việt Nam đang có một số nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến Hydro xanh do tiềm năng năng lượng gió ngoài khơi của Việt Nam đang thu hút được sư quan tâm lớn của nghành. 

 
Với những lợi thế từ Lộ trình năng lượng tái tạo của Việt Nam, nguồn nhiên liệu Hydro xanh đang nắm giữ tiềm năng lớn để sản xuất và phát triển.

Tầm nhìn rõ ràng

 

Dự án Điện gió ngoài khơi Thăng Long sẽ được xây dựng với công suất 3.400MW, và như một trang trại điện gió nối lưới. Dự án đã được chấp thuận sơ bộ bởi Chính phủ, tuy nhiên, Tập đoàn Enterprize Energy mong muốn phát triển thêm 2.000MW hoặc hơn nữa, đặc biệt là nhằm cung cấp điện cho tổ hợp sản xuất Hydro xanh. “Chúng tôi dự kiến thực hiện kế hoạch này theo mô hình Hợp đồng mua bán điện trực tiếp giữa Trang trại điện gió và tổ hợp sản xuất Hydro”, như Ông Ian Hatton, Chủ tịch Tập đoàn Enterprize Energy chia sẻ với Thời báo Kinh tế Việt Nam (VET). “Do có thị trường này có nhiều tiềm năng phát triển, Dự án Thăng Long có khả năng mở rộng công suất, nên điều này tạo cơ hội sản xuất thêm nhiều năng lượng cho Việt Nam mà không cần phải bổ sung thêm lưới điện truyền tải. Chúng tôi cũng nhìn thấy giá trị của nhiều sản phẩm thứ cấp khác trong quá trình phân tách. Do vậy, tổ hợp sản xuất Hydro nên được xem như một nhà máy điện ngoài khơi”. 

 

Việc xuất khẩu Hydro xanh từ dự án bằng tàu chuyên dụng giống như vận chuyển khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) hoặc khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG). “Chúng tôi đang lựa chọn phương án để lưu chứa khí trước khi vận chuyển”. Ông ấy cho biết. “Phương án này có thể thực hiện được với các bồn chứa được đặt dưới đáy biển. hoặc với tàu vận chuyển nội bộ, theo cách tương tự như cách phát triển các lô dầu khí cách xa hệ thống đường ống dẫn khí. Điểm lợi chính của mô hình kinh doanh này là gió tạo ra điện mà không cần phải truyền tải trên bờ, thay vào đó là sản xuất ra Hydro xanh. Kết quả là năng lượng đó không mất đi mà nó được sử dụng theo cách làm tăng hiệu quả của toàn bộ dự án”. 

 

Biên bản ghi nhớ giữa GICON và VPI nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam và phát triển các chiến lược chung có liên quan đến mục tiêu cung cấp năng lượng giảm phát thải hiệu ứng nhà kính toàn cầu. GICON đã xác định 3 giai đoạn để đạt được mục tiêu này. Giai đoạn 1 là phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như là nguồn năng lượng chính, trong khi Giai đoạn 2 là nguồn năng lượng thứ cấp, ví dụ như các loại năng lượng mà khách hàng có thể mua dễ dàng. Trong giai đoạn 3, ưu tiên hàng đầu là chuyển đổi loại năng lượng mà khách hàng không sử dụng nữa, nhưng là năng lượng điện tái tạo, thành khí Hydro như một loại phương tiện vận chuyển năng lượng. Trong các giai đoạn tiếp theo, việc sản xuất các loại nhiên liệu tổng hợp hoặc các loại nhiên liệu thô từ Hydro tái tạo cũng rất được lưu tâm. 

 

Theo ông Jochen Grossman, Chủ tịch Tập đoàn GICON, Việt Nam có tiềm năng lớn để sản xuất điện năng từ các nguồn năng lượng tái tạo, và nó vượt xa khỏi nhu cầu truyền tải của lưới điện. “Việt Nam cũng có tiềm năng lớn để phát triển nền kinh tế Hydro và chuyển đổi năng lượng thành công có thể lan tỏa ra nhiều quốc gia khác”, ông nói. "Ngày hôm nay chúng tôi cùng với đối tác VPI đang đặt nền móng vững chắc để làm việc cụ thể về sản xuất và sử dụng khi Hydro xanh trong tương lai. Đó không phải là đoạn đường ngắn, nhưng là một hành trình dài có thể tới đích mà cả hai bên đang trải nghiệm". 

 

Trong khi đó, nhà sản xuất pin Hydro Plug Power, liên doanh với Tập đoàn đa nghành SK của Hàn Quốc, đang dự kiến mở rộng kinh doanh tại Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc. Blackstone Mineral, Một công ty khoáng sản chuyên khai thác kim loại Nicken của Úc, cũng dự kiến khảo sát xem liệu có sử dụng được khí Hydro xanh để sản xuất điện phục vụ chế xuất tại Dự án khai thác PGE-Đồng-Niken tại tỉnh miền bắc Sơn La hay không. 

 

 

 

 

Tiềm năng to lớn 

 

Theo nghiên cứu của Công ty Fitch Solutions, nhu cầu Hydro toàn cầu hàng năm được dự báo tăng trưởng từ 80 triệu tấn năm 2021 lên 100 triệu tấn năm 2030. Hydro xanh có thể được sản xuất khoảng 10 triệu tấn/năm vào năm 2030, nâng mạnh thị phần từ 0,1% như hiện nay. Danh mục các dự án Hydro xanh trên toàn cầu đã đạt đến 71 GW vào tháng 2/2020, dù không có thêm dự án nào trong giai đoạn 2019-2020, và tăng lên 121GW vào quý 2 cùng năm, bao gồm cả 136 dự án đang trong quá trình quy hoạch và phát triển. Mức đầu tư trung bình vào khoảng 4,5 tỷ đô la. 

 

Theo ông Võ Thanh Tùng, chuyên gia Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ năng lượng của GE, chi phí đầu tư công nghệ điện gió ngoài khơi toàn cầu đang sụt giảm là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận đầu tư vào Hydro xanh, nhiên liệu đóng vai trò quan trọng trong hành trình giảm phát thải khí cac-bon trong các nghành kinh tế khác nhau. Khí Hydro thu được sẽ được phục vụ cho cả xuất khẩu và sản xuất trong nước.

 

Thực ra, nhu cầu sản xuất khí Hydro xanh từ quá trình điện phân nước thông qua nguồn điện năng lượng tái tạo sẽ tăng lên trên quy mô toàn cầu để phục vụ các nghành kinh tế khác nhau, bao gồm vận tải, chế tạo, hóa chất, gia nhiệt và điện năng trong trung và dài hạn. Ông Tùng nhận thấy rằng các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu đã phát triển các chiến lược quốc gia của riêng họ để dẫn hướng thị trường khí Hydro xanh toàn cầu đầy tiềm năng phát triển gấp 5 lần vào năm 2050. Chiến lược này chỉ ra các cơ hội cho các nhà đầu tư tiềm năng muốn tiếp cận thị trường quốc tế đầy sôi động. "Ở cấp độ quốc gia, công suất hàng năm của khí Hydro có nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch thu được bằng quá trình thủy phân hơi nước là 500.000 tấn, chủ yếu từ các nhà máy lọc dầu và nhà máy đạm”, Ông Tùng cho biết. “Công nghệ khí Hydro xanh đã sẵn sàng và các nhà sản xuất Hydro xanh có thể tìm kiếm cơ hội để thay thế khí hydro truyền thống và mở ra các ứng dụng công nghệ mới cho nghành sản xuất khí Hydro xanh trong các lĩnh vực công nghiệp khác. Sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh tiềm năng cho các nhà đầu tư muốn khám phá và phát triển nghành sản xuất khí hydro xanh ở cấp quốc gia.”

 

Phát triển sản xuất khí Hydro xanh từ năng lượng tái tạo đòi hỏi một số yêu cầu bắt buộc như nghiên cứu và thực hiện, sự cần thiết và sẵn sàng của công nghệ, an toàn, thị trường và nguồn nước cấp cho quá trình điện phân. “Sản xuất khí Hydro xanh từ điện gió ngoài khơi rất tiềm năng vì một số lý do*. Ông Đinh Văn Nguyên, chuyên gia nghiên cứu cao cấp thuộc Trung tâm nghiên cứu SFI về Năng lượng, Khí hậu và Hàng hải (MaREI) giải thích. “Đầu tiên, các yếu tố về công suất và tiềm năng cao của Điện gió ngoài khơi và vòng đời của nhà máy bền vững hơn. Thứ hai, phải có nguồn nước cấp đủ lớn nếu điện phân trực tiếp từ nước biển là khả thi. Và cuối cùng, công tác vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu tiềm năng như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Châu Âu bằng tàu chuyên dụng rất thuận tiện. Các bên cần rất nhiều nỗ lực để biến những tiềm năng này thành hiện thực*. 

 

Lộ trình cho tương lai 

 

Căn cứ vào Nghị quyết 55/TƯ của Bộ Chính trị về Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có thể đạt được 10 GW hoặc hơn đối với điện gió ngoài khơi nối lưới vào năm 2030 và 5 GW phát triển các dự án khí Hydro. “Đặt ra những mục tiêu cụ thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty năng lượng đưa ra những đề xuất và chia sẻ với các Bộ nghành liên quan về việc làm thế nào để triển khai dự án* .Ông Hatton chia sẻ.

 

Theo Ông Grossmann, các quy định đơn giản và rõ ràng về quy trình phê duyệt các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo như trang trại gió trên bờ và ngoài khơi cũng có thể hỗ trợ quản lý các nhà đầu tư nước ngoài. “Đầu tư vào hạ tầng sản xuất khí hydro đang có mức giá cao đáng kể”, Ông nói. “Vì lý do này, hạ tầng sản xuất khí bước đầu chỉ nên được xây dựng tại một số vị trí mục tiêu có hiệu quả đấu nối cao” để hoàn thành mục tiêu một cách hiệu quả nhất. 

 

Ông Nguyên cho rằng Chính phủ Việt Nam cũng như các nghành công nghiệp nên đặt ra các mục tiêu và lộ trình phát triển khí Hydro xanh trong tương lai. “Nghiên cứu, phát triển và thực hiện nên là nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các bên tham gia, gồm cả các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.” Ông nói: “Điều này có thể giúp tạo lập các chuỗi cung ứng cho sản xuất và chế tạo thông qua các dự án thử nghiệm và đưa ra các chính sách, tiêu chuẩn một cách hiệu quả. Một lộ trình và hành động chuyển đổi năng lượng hướng đến năng lượng hydro xanh và các sản phẩm phái sinh là rất quan trọng với tất cả các bên tham gia, bao gồm các công ty dầu khí, công ty sản xuất điện, nhà cung cấp dịch vụ vận tải và các nhà sản xuất xi măng, thép". 

 

Do các dự án khí Hydro xanh còn rất xa tại Việt Nam, chúng ta nên học hỏi từ các nước đi trước, Ông nói thêm. "Bên cạnh việc phát triển năng lượng tái tạo, Dù năng lượng khí hydro xanh là rất hứa hẹn, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều thách thức tại tất cả các bước của kế hoạch thực hiện, như phát triển và triển khai dự án, sản xuất, lưu chứa, vận tải và tiêu thụ”. “Những thách thức cụ thể có thể kể đến như nhận thức cộng đồng, quy trình an toàn, các tiêu chuẩn, chuỗi cung ứng trong nước phục vụ chế tạo thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ cho điện phân, lưu trữ và vận chuyển khí Hydro”. 

 

Khí hydro xanh chỉ được đề cập một cách chung chung trong các chính sách hiện hành về năng lượng, và chưa có vai trò cụ thể trong hệ thống điện năng và năng lượng trong tương lai. Dù đã xuất hiện xu hướng trên toàn cầu nhưng nhiên liệu khí hydro vẫn là khái niệm mới đối với Việt Nam. Và để đưa ra các mục tiêu hoặc chính sách thích hợp, chúng ta nên có một Nghiên cứu cấp quốc gia về tiềm năng, thách thức và cơ hội trên phạm vi toàn cầu, trong khu vực và trong nước”,  Ông Tùng đề xuất.

 

Căn cứ vào đó, một lộ trình có thể được soạn thảo với sự tham gia của nhiều bên khác nhau nhằm chia sẻ và thiết lập các tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược trung – dài hạn mang tính toàn diện và đầy đủ. Hiện nay, công nghệ khí Hydro xanh đã có sẵn, nhưng chi phí chưa cạnh tranh. Do vậy, những chính sách phù hợp để tạo ra thị trường bền vững là rất cần thiết. Bằng cách mở rộng các chuỗi cung ứng, các bên tham gia có thể kéo giảm chi phí cho những khoản đầu tư này”, ông bổ sung thêm. 

 

NHUNG NGUYỄN

THỜI BÁO KINH TẾ VIỆT NAM